Đây là một trong những sự thay đổi lớn đã xảy ra trong ngành công nghiệp sản xuất trứng gia cầm.
Khoảng mười hoặc mười lăm năm trước, ở hầu hết các quốc gia, phần lớn trứng gà được sản xuất trong hệ thống lồng nhốt vì chúng đã giải quyết tốt nhất nhiều vấn đề quan trọng sau:
- Có thể nuôi được số lượng lớn gà trên mỗi chuồng giúp tiết kiệm tài nguyên đất và vốn đầu tư.
- Nhu cầu thực phẩm chất lượng giá rẻ cho thế hệ đang hồi phục sau thế chiến 2
- Thu gom trứng dễ dàng bằng hệ thống băng chuyền tự động.
- Sản xuất trứng hàng loạt mang lại hiệu quả cao.

Vào thời điểm đó, các hệ thống nuôi gà đẻ trứng không lồng không được tự động hóa nên việc thu gom trứng bằng tay, rất tốn kém nên hạn chế quy mô hoạt động.
Trước đây, chỉ những nhà hoạt động vì quyền lợi động vật mới tiêu thụ trứng được nuôi thả rông. Và sẵn sàng trả gấp đôi hoặc nhiều hơn cho loại trứng này. Thị trường ngách cao cấp này được phục vụ bởi những nông dân nuôi quy mô nhỏ.
Thị trường thay đổi
Thực tế này đã thay đổi đáng kể và đến năm 2020, trứng gà không nuôi lồng trở nên chiếm ưu thế hơn nhiều, chiếm phần lớn số trứng được sản xuất (ở Anh, Châu Âu, Úc, Mỹ)
Tỷ lệ trứng theo loại chuồng nuôi năm 2020
| Quốc Gia | nuôi lồng | nuôi thả rông | Nuôi chuồng | Tổng trứng không nuôi lồng |
| Anh | 42% | 56% | 2% | 58% |
| Châu Âu | 48% | 18% | 34% | 52% |
| Mỹ | 70% | 30% | ||
| Úc | 43% | 47% | 10% | 57% |
Mỗi quốc gia có các tiêu chuẩn riêng để xác định kiểu nuôi khác nhau: hữu cơ, chuồng nuôi thả rông và nuôi chuồng không thả rông, dựa trên lượng không gian cho mỗi con gia cầm và đôi khi là kích thước chuồng trại, thiết bị chuồng, lối đi ra bên ngoài, v.v.

Quá trình phát triển của xu hướng trứng không có lồng được thúc đẩy bởi một số yếu tố sau:
- Xu hướng quan tâm đến phúc lợi động vật: Dần dần, người ta ngày càng quan tâm đến quyền lợi động vật nói chung và thuật ngữ “quyền động vật” đã được đưa ra. Động vật được hiểu là tất cả các loại động vật, bao gồm vật nuôi trong nhà như thú cưng, động vật trang trại và động vật hoang dã.
- Người tiêu dùng giàu có hơn. Trong thời kỳ hậu chiến, ưu tiên hàng đầu là cung cấp thực phẩm cần thiết cho người dân. Chế độ ăn trứng (một quả trứng cho mỗi người một tuần) chỉ bị bãi bỏ ở Anh vào năm 1954. Khi mức sống được cải thiện, người tiêu dùng tìm kiếm chất lượng thực phẩm cao hơn. Đối với nhiều người tiêu dùng, nếu một quả trứng được sản xuất theo cách nhân đạo thì đó là một phần chất lượng của nó.
- Mối quan tâm của cộng đồng, khi mối quan tâm đến loại trứng không lồng tăng lên, dần dần khuyến khích các công ty thiết bị chuồng trại tham gia sản xuất hàng thiết bị chuồng cho trại nuôi không lồng. Điều này làm cho chi phí sản xuất trứng không lồng đã giảm, trở nên gần hơn nhiều so với giá thành của trứng nuôi trong lồng.
- Mối quan tâm đến quyền lợi động vật đang ở quy mô lớn. Rất ít người chịu trả gấp ba, thậm chí gấp đôi cho những quả trứng thả rông hoặc không có lồng. Nếu giá trứng không có lồng bằng với giá trứng có lồng, thì hầu như mọi người sẽ ăn không có lồng.
Khi thế hệ trẻ 8X, 9X có nhận thức cao hơn về phúc lợi động vật, làm nhu cầu trứng không lồng, các công ty đã tham gia sản xuất quy mô lớn do đó giảm chi phí sản xuất.
Phong phú các loại lồng
Sự thay đổi mô lớn đầu tiên với hệ thống lồng nhốt truyền thống là ở châu Âu khi Liên minh châu Âu tìm kiếm các giải pháp công nghệ có thể cân bằng giữa phúc lợi của gà và chi phí sản xuất. Giải pháp mà họ đưa ra là “hệ thống lồng cải tiền”
Những chiếc lồng lớn hơn chứa khoảng một trăm con gà thay vì sáu bảy trăm con. Mỗi con gà có thêm chỗ để ở, cũng như khu vực chơi (cỏ nhân tạo), đồ chơi và một ô riêng để chúng đẻ trứng. Các quy định bắt buộc trang trại tuân thủ theo hệ thống này đã được thông qua để đến khoảng năm 2015, nó đã thay thế hoàn toàn các lồng nhốt cũ. Quy định thay đổi này khiến những người chăn nuôi ở châu Âu tiêu tốn hàng tỷ Euro.

Về mặt kỹ thuật, hệ thống là một cải tiến lớn so với lồng nhốt. Tuy nhiên, sai lầm cơ bản là EU đã sử dụng cách tiếp cận từ trên xuống. Trong khi Hội đồng EU chọn giải pháp theo xu hướng mà người tiêu dùng sẽ thích hơn. Người tiêu dùng vẫn xem các lồng cải tiến là “lồng” và tỏ ra miễn cưỡng mua những quả trứng này. Kết quả đáng tiếc là ngành công nghiệp chăn nuôi gia cầm châu Âu và người đóng thuế đã lãng phí hàng tỷ euro đầu tư và trong vài năm các trang trại buộc phải quay lại nuôi chuồng trại hoặc chăn thả tự do để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Đây là một bài học lớn trong giới hạn của quy định và hướng dẫn của chính phủ. Các quy định có thể đảm bảo an toàn, một sân chơi bình đẳng cho thị trường, nhưng chúng không thể ra lệnh cho người tiêu dùng là họ muốn mua gì và mức độ phúc lợi động vật mà họ sẽ chấp nhận được.
Hệ thống ổ đẻ tự động đã thay đổi cuộc chơi.
Sự ra đời của lồng tự động là một bước đột phá lớn vì nó cho phép sản xuất trứng không lồng với giá cả hợp lý và cạnh tranh. Giờ đây, gà mái có thể đẻ trứng trong tổ, sau đó trứng được vận chuyển tự động đến điểm thu gom tập trung.
Hệ thống làm tổ tự động nhanh chóng trở thành yếu tố quan trọng trong mỗi chuồng. Nó giúp loại bỏ việc nhặt trứng bằng tay tốn kém và tốn nhiều công sức. Nếu trứng ở trong ổ quá lâu hoặc trên sàn chuồng, chúng sẽ bị bẩn và giảm độ tươi.
Gà mái vẫn cần được huấn luyện để thực sự đẻ trứng vào hệ thống làm tổ, nhưng việc huấn luyện đang trở nên dễ dàng hơn, và hiện tại cũng có một số hệ thống robot giúp huấn luyện gà mái làm điều đó.
Chuồng thả rông và chuồng trại
Trong “hệ thống chuồng trại”, gà mái được tự do di chuyển xung quanh toàn bộ chuồng. Một hệ thống chuồng trại hiện đại sẽ có nhiều chỗ gà đậu và băng tải trải rộng để gà mái có thể làm tổ ở các độ cao khác nhau trong chuồng mà không bị hạn chế. Gà mái có thể bay từ nhảy trên các cây cao thấp khác nhau.
Hệ thống chuồng trại được coi là một không gian ba chiều có thể được lấp đầy một cách hiệu quả thay vì chỉ là một tầng. Vì vậy, mỗi mét vuông có thể nuôi được nhiều gà mái hơn so với chuồng chỉ có sàn, giảm chi phí vốn.
Chuồng nuôi thả rông cũng giống như chuồng trại, nhưng có thể ra ngoài trời khi thời tiết cho phép. Theo chế độ quản lý, sẽ có những giới hạn về số lượng gia cầm trên mỗi mét và mỗi chuồng.
Trong khi mỗi quốc gia hoặc tiêu chuẩn có yêu cầu khác nhau về số lượng gà trên một mét vuông, có lối ra vào bên ngoài, vv, điều kiện cơ bản là gà có thể đi ra ngoài, yêu cầu cần có không gian bên ngoài tương đối lớn để gà chơi.
Cuộc cách mạng do người tiêu dùng dẫn đầu
Gà đẻ không có lồng được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển và kiểm soát hoàn toàn thị trường của hầu hết các nước phát triển trong vòng 5 đến 10 năm tới.
Đây là một cuộc cách mạng do người tiêu dùng dẫn đầu. Các siêu thị và chuỗi thức ăn nhanh, vốn luôn nhạy cảm nhất với mong muốn của người tiêu dùng, đã xác định được sự chuyển dịch và hành động phù hợp.
Chẳng hạn, McDonalds và Woolworth, một chuỗi siêu thị lớn của Úc, đã đặt ra thời gian biểu để 100% trứng trong cửa hàng là không lồng, và yêu cầu các nhà cung cấp của họ rằng họ phải trở thành trại nuôi gà đẻ không có lồng trong một thời gian nhất định với cùng một mức giá.
Cũng như nhiều thay đổi khác, sự thay đổi này không được dẫn dắt bởi quy định của chính phủ. Trên thực tế, nhiều nước châu Âu đã chống lại điều đó, họ cố gắng bảo vệ các quy định về lồng cải tiến mà họ đã đầu tư rất nhiều vào.
Cuộc cách mạng trứng không có lồng khách hàng khởi sướng vẫn chưa rõ ràng sẽ tiến triển như thế nào, nhưng tác động đã rõ ràng ở hầu hết mọi nơi, buộc người tiêu dùng, nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà bán lẻ và cơ quan quản lý phải điều chỉnh theo một thực tế đang thay đổi.
Source: thepoultrysite.com

